“Vùng trời quê hương” cũng là “bầu trời Tổ quốc”: đất còn, người còn, thế cái gì mất đi?
- Jul 1, 2025
- 10 min read
Updated: Jul 12, 2025
Không gian/nơi chốn (space/place) là chiều kích quan trọng trong kiến tạo bản sắc (identity). Thế nhưng, "phàm thế cuộc trong thiên hạ, chia rồi lại hợp, hợp rồi lại chia." Nếu đất còn, người còn, quê hương còn, thì ta mất gì sau khi tách-nhập? Phải chăng cái được gọi là "vùng trời quê hương" và "bầu trời tổ quốc" là sản phấm sinh ra từ "trí tưởng tượng" của xã hội hiện đại? Và bản sắc (identity) là cái tồn tại bền vững hay là "sự ổn định tạm thời của các ý nghĩa vốn không ngừng phát triển" trong mối quan hệ quyền lực (power) và kháng cự quyền lực (resistance)?

"She is eternal
Long before nation's lines were drawn
And you ask me why I love her
Through wars death and despair
She is the constant, we who don't care."
Anthem (From "Chess") by Benny Andersson & Björn Ulvaeus & Tim Rice
Ngôn ngữ, tri thức và quyền lực
Ngôn ngữ là công cụ được con người sử dụng để đạt được các mục đích khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh và các mối quan hệ xã hội (Wittgenstein, 1953). Vì có nhiều mục đích khác nhau, chúng ta có thể sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau để nói về cùng một sự vật, hiện tượng (Rorty, 1991). Do vậy, các khái niệm, quan điểm, lý thuyết, về bản chất, là công cụ để con người hiểu thế giới, bản thân chúng không tương ứng với thực tại hay phản ánh một chân lý khách quan. Quan điểm này giúp chúng ta tránh được lối tư duy đối lập nhị nguyên.
Tri thức được sản xuất bởi ngôn ngữ, do vậy không bao giờ trung lập hay khách quan, mà luôn gắn liền với các mối quan hệ quyền lực được tạo ra và duy trì bởi các diễn ngôn (discourse). Diễn ngôn là một tập hợp các quy tắc để nói về một đối tượng cụ thể với các ý tưởng, ngôn ngữ, thực hành, các loại tri thức được sử dụng thường xuyên và lặp lại nhiều lần trong các thảo luận. Diễn ngôn quy định những gì được coi là "sự thật" và những gì bị loại trừ, ai có thẩm quyền nói và nói từ vị trí nào (Foucault, 1972).
Về khái niệm không gian/nơi chốn (space/place)
Mặc dù thường được sử dụng thay thế cho nhau trong ngôn ngữ thường nhật, khái niệm "không gian" (space) và "nơi chốn" (place) được cho là có sự khác biệt nhất định trong các diễn ngôn khoa học khác nhau. Chủ nghĩa nhân văn xem nơi chốn (place) là một khu vực được con người tạo ra, giới hạn và duy trì thông qua các hoạt động xuất phát từ sự gắn bó về mặt cảm xúc, mối liên hệ ăn sâu bén rễ giữa con người với một vùng đất tạo nên tính xác thực (authenticity) cho môi trường sống đó (Relph, 1976; Tuan, 1977). Mặt khác, chủ nghĩa duy vật tập trung vào không gian (space) như một sản phẩm mang tính xã hội, được tạo ra bởi các phương thức sản xuất khác nhau, là nơi diễn ra các quan hệ thống trị và phản kháng. Không gian luôn là không gian trừu tượng và tương đối, trong đó nơi chốn (place) được xem như một dạng không gian cụ thể, được hình thành qua các hành động đặt tên và tương tác xã hội (Lefebvre, 1991; Soja, 1996).
Sự phân biệt giữa nơi chốn (place) và không gian (space) được thể hiện rõ trong quan niệm cho rằng tính hiện đại và nền kinh tế tư bản đang đe dọa truyền thống văn hóa địa phương, khi nơi chốn (place) – đặc trưng bởi tính giàu ý nghĩa và sự ổn định – dần bị thay thế bởi không gian (space) – đặc trưng bởi tính nông cạn và sự lưu thông. Tuy nhiên, văn hóa là một mạng lưới các mối quan hệ đan xen, lai ghép, do vậy không có nền văn hóa nào là nguyên bản. Văn hóa là những ý nghĩa được con người tạo ra thông qua tương tác xã hội. Dòng người di cư tạo ra những địa điểm mới, nơi các ý nghĩa văn hóa được sản xuất và tái sản xuất liên tục. Mặt khác, nhiều yếu tố văn hóa tại một địa điểm được cho là còn giữ nguyên "chất bản địa" cũng có thể có nguồn gốc ngoại sinh, là sản phẩm của giao lưu. Do đó, trong thực tế việc xác định tính xác thực – điểm khác biệt cơ bản giữa không gian và nơi chốn – là không thể.
Con người chỉ có thể nhận thức về thế giới thông qua ngôn ngữ và không thể có sự thể hiện khách quan về thế giới. Nói cách khác, ta chỉ có thể nói về một "thực tại" được kiến tạo bởi ngôn ngữ. Do đó, không có một định nghĩa mang tính phổ quát về cái gì được gọi là "không gian" hay "nơi chốn". Các khái niệm đều là sản phẩm của ngôn ngữ, dùng để nói về những bình diện khác nhau của một hiện tượng, nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau.
Không gian/nơi chốn và ý thức về bản sắc (identity)
Sự phát triển của các ngành khoa học xã hội vào cuối thế kỷ XIX với các lý thuyết về cái tôi xã hội hóa đã ảnh hưởng sâu rộng đến nghiên cứu về bản sắc ở cả cấp độ cá nhân và tập thể. Theo đó, bản sắc (identity) là những điểm chung và khác biệt giữa chúng ta với người khác (Weeks, 1990), bao gồm bản sắc cá nhân, tộc người và quốc gia. Nó bao hàm cả cách ta nhìn nhận bản thân và cách người khác nhìn nhận ta. Bản sắc còn là “cảm thức sở thuộc” (sense of belonging) hoặc sự kết nối với một nền văn hóa lớn hơn (Ting-Toomey & Chung, 2012). Hiện nay, bản sắc được hiểu là những cách khác nhau mà ta dùng để mô tả bản thân trong các bối cảnh và hệ quy chiếu cụ thể, bằng ngôn ngữ mà ta có sự gắn kết về mặt cảm xúc (Hall, 1990; Barker, 2002).
Tính không gian (spatiality) là chiều kích quan trọng trong việc hình thành bản sắc cá nhân và xã hội. Đặt tên là cách cơ bản để gán ý nghĩa cho sự vật, hiện tượng nói chung và không gian/nơi chốn nói riêng. Khi một người giới thiệu bản thân thì quốc tịch, quê quán, nơi cư trú thường được đề cập ngay sau họ tên và thay đổi tùy thuộc vào bối cảnh: giới thiệu quốc tịch khi gặp người nước ngoài, quê quán hoặc nơi ở hiện tại khi gặp đồng hương. Địa danh phản ánh lối sống, lịch sử và truyền thống của một cộng đồng, thường được lưu giữ như một phần của văn hóa dân gian. Nhiều tên gọi dựa trên đặc điểm, phẩm chất hoặc nguồn gốc của cư dân, thể hiện cái nhìn của con người về thế giới. Nói cách khác, một địa danh có thể gợi lên một tập hợp những đặc trưng văn hóa, lối sống và cảnh quan mang nhiều nét bản sắc.
Bên cạnh đó, việc đặt địa danh hành chính còn phản ánh cấu trúc xã hội, những giá trị (theo nghĩa những gì được xem là tốt đẹp, đáng mơ ước) và mục tiêu phát triển của đất nước (Pred & Watts, 1992). Những cái tên này không chỉ dùng để định vị mà còn củng cố lịch sử, văn hóa chung, tạo nên sự thống nhất nội bộ và phân biệt với các cộng đồng khác. Do vậy, một địa danh có thể kết nối nhiều cá nhân hoặc nhóm mang nhiều bản sắc khác nhau cũng như chia rẽ những người được xem là có cùng "cội nguồn".
Mặt khác, quan điểm duy vật Marxist cho rằng thói quen, phong tục, quan niệm và niềm tin của các giai cấp bắt nguồn từ vị trí của họ trong phân công lao động. Những không gian khép kín như nhà máy hay khu phố củng cố sự đồng nhất nội tại và khác biệt ngoại tại, trở thành nền tảng cho bản sắc tập thể mới (Castells, 1983). Bên cạnh đó, các quan hệ sản xuất tư bản được phân bố theo không gian địa lý, tạo ra sự khác biệt về văn hóa giữa các vùng (Massey, 1995).
Không gian không chỉ tạo ra trải nghiệm chung mà còn cung cấp "chỗ đứng" để chống lại quyền lực và áp bức. Việc đặt tên cho địa điểm là tuyên bố quyền sở hữu (thuộc về ai) và định nghĩa bản sắc (có ý nghĩa gì). Trong chiến tranh, lãnh thổ bị chiếm đóng thường bị đổi tên để xóa bỏ bản sắc cũ và áp đặt bản sắc của kẻ thống trị. Các phong trào giải phóng dân tộc luôn chú trọng các cuộc chiến biểu tượng trong không gian, gán ý nghĩa mới cho địa danh, xây tượng đài và đài tưởng niệm để biến các địa điểm trung lập thành nơi mang tính ý thức hệ (Whelan, 2002). Điều này cho thấy không gian là đấu trường nơi quyền lực và bản sắc được kiến tạo và thách thức.
Quốc gia dân tộc (nation-state) và bản sắc dân tộc (national identity)
Trong bối cảnh hiện đại, các nền văn hoá dân tộc (national culture) là một phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hoá của cá nhân và các nhóm. Các quốc gia (nation), mà Anderson (1983) gọi là những "cộng đồng trong tâm tưởng" (imagined community), đã tạo nên sự liên kết giữa các thành viên, các nhóm với những bản sắc đa dạng bằng những tuyên bố về tính thống nhất của nền văn hoá dân tộc mà nếu thiếu đi ý thức về tính thống nhất đó, con người hiện đại sẽ cảm nhận "sự mất mát sâu sắc về mặt chủ quan" (Hall, 1992). Nói cách khác, bản sắc của chúng ta được xác định bởi chính chúng ta bằng các diễn ngôn về dân tộc và bản sắc dân tộc.
Quốc gia là một cộng đồng chính trị trong tâm tưởng vì các thành viên trong một quốc gia sẽ không bao giờ gặp gỡ hết các đồng bào của họ nhưng trong tâm trí mỗi người vẫn tồn tại ý niệm về sự đồng nhất, những mối ràng buộc sâu sắc về mặt tình cảm, khiến họ sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ quốc gia và chứng minh cho lý tưởng đó. Một quốc gia là một thực thể có ranh giới hữu hạn nhưng mềm dẻo và chủ quyền trên lãnh thổ được giới hạn đó. Trong các diễn ngôn về văn hóa dân tộc, những khác biệt và chia rẽ nội bộ (về giai cấp, giới, sắc tộc, vùng miền,...) ít quan trọng hơn nhiều so với việc tạo ranh giới với các quốc gia khác dưới một khối thống nhất trong cội nguồn và vận mệnh chung.
Tuy nhiên, "cộng đồng trong tâm tưởng" theo quan điểm của Benedict Anderson không có nghĩa là "không tồn tại" hoặc "giả dối". Trên thực tế, tất cả các cộng đồng quy mô lớn mà không thể có sự tiếp xúc trực tiếp giữa toàn bộ các thành viên đều là các cộng đồng được tưởng tượng. Do vậy, các cấp độ bản sắc (quốc gia, khu vực, địa phương), xét về bản chất, là tương tự như nhau, tất cả chúng đều là việc thể hiện của sự gắn bó thông qua những gì được xem là thiêng liêng, là đáng giữ gìn của một cộng đồng, một nơi chốn. Nói cách khác, bản sắc dân tộc là một dạng tâm lý "thuộc về" (belonging), đặc trưng cho các xã hội được tổ chức ở quy mô lớn với các nguồn lực xuất phát từ chủ nghĩa tư bản và quốc gia dân tộc là "nơi chứa đựng quyền lực" (power container) quan trọng nhất (Giddens, 1981).
Tạm kết
Vấn đề bản sắc địa phương, quốc gia hoặc khu vực liên quan đến nhận thức của chủ thể văn hóa về tầm quan trọng của vị trí lãnh thổ và điều kiện lịch sử trong quá trình và phát triển. Trong diễn ngôn của các nền văn hóa quốc gia dân tộc, bản sắc bắt nguồn từ một nơi chốn cụ thể, được gọi là quê hương (homeland). Quê hương được hình dung là một cái tên, một loại cảnh quan nhất định với những đặc điểm, đặc trưng, phẩm chất, tính cách có thể được nhìn nhận một cách khách quan của một vùng, một quốc gia, một khu vực. Quê hương này được giới hạn là một lãnh thổ với địa giới rõ ràng, có thể được xác định trên bản đồ.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa không gian/nơi chốn và bản sắc còn là các vấn đề về ai có quyền tạo ra định nghĩa về không gian, về cách các nhóm xã hội gán ý nghĩa cho không gian thông qua các thực hành xã hội, cách các diễn ngôn về không gian kiến tạo nên bản sắc, cách các bản sắc được thể hiện trong các không gian và hệ quy chiếu cụ thể,... Từ các thảo luận trên, ta có thể nhận thấy, “vùng trời quê hương” và “bầu trời tổ quốc” là như nhau về bản chất. Tùy theo các mục đích khác nhau này, các diễn ngôn về không gian/nơi chốn khác nhau được tạo ra để củng cố sự đồng nhất trong trí tưởng tượng và duy trì một trật tự quyền lực.
Tài liệu tham khảo
[1] Anderson, B. R. O. (1983). Imagined communities. Verso.
[2] Barker, C. (2002). Making sense of cultural studies: central problems and critical debates. SAGE Publications.
[3] Castells, M. (1983). The city and the grassroots: a cross-cultural theory of urban social movements. University of California Press.
[4] Foucault, M. (1972). The Archaeology of Knowledge. Pantheon Books.
[5] Giddens, A. (1981). A Contemporary Critique of Historical Materialism (A. Giddens, Ed.). University of California Press.
[6] Hall, S. (1990). Cultural Identity and Diaspora. In J. Rutherford (Ed.), Identity: community, culture, difference (pp. 222-237). Lawrence & Wishart.
[7] Hall, S. (1992). The Question of Cultural Identity. In S. Hall, T. McGrew, & D. Held (Eds.), Modernity and its futures: understanding modern societies, book IV (pp. 274-316). Polity Press.
[8] Lefebvre, H. (1991). The Production of Space (D. Nicholson-Smith, Trans.). Wiley.
[9] Massey, D. (1995). Spatial Divisions of Labour: Social Structures and the Geography of Production. Macmillan Education UK.
[10] Pred, A., & Watts, M. (1992). Reworking modernity : capitalisms and symbolic discontent. Rutgers University Press.
[11] Relph, E. (1976). Place and Placelessness. Pion.
[12] Rorty, R. (1991). Objectivity, relativism, and truth. Cambridge University Press.
[13] Soja, E. W. (1996). Thirdspace: Journeys to Los Angeles and Other Real-and-Imagined Places. Wiley.
[14] Ting-Toomey, S., & Chung, L. (2012). Understanding intercultural communication. OUP USA.
[15] Tuan, Y. (1977). Space and Place: The Perspective of Experience. University of Minnesota Press.
[16] Whelan, Y. (2002). The construction and destruction of a colonial landscape: monuments to British monarchs in Dublin before and after Independence. Journal of Historical Geography, 28(4), 508-533.
[16] Wittgenstein, L. (1957). Philosophical Investigations. Blackwell.
[17] Weeks, J. (1990). The Value of Difference. In J. Rutherford (Ed.), Identity: community, culture, difference (pp. 88-100). Lawrence & Wishart.


Comments