top of page

"Ăn tạp" và "gu mặn" trong diễn ngôn của ma trận dị tình (heterosexual matrix)

  • Jul 12, 2025
  • 11 min read

Updated: Aug 3, 2025

Từ truyện ngắn "Hà thành nữ sỹ” của Nguyễn Công Hoan được đăng trên An Nam tạp chí năm 1929, kể về chàng văn sĩ 19 tuổi phát hiện "nữ sĩ" mình đang “chim hàm thụ” thực chất là người cùng giới tính, đến vụ việc “Hồng tỷ Nam Kinh” năm 2025, khi một người đàn ông 38 tuổi giả nữ, lừa hàng nghìn đàn ông quan hệ tình dục và quay lén một lần nữa làm ta suy ngẫm về cách mà các quy chuẩn giới đã và đang duy trì, củng cố bá quyền dị tính. Nhưng dị tính có phải là "tự nhiên", "nguyên bản"? Đồng tính có phải là "bản sao" của dị tính? Có tồn tại sự khác biệt giữa "male-in-the-head" "man-in-the-bed"?

"The writing [...] was done from a desire to live, to make life possible [...] How must we rethink the ideal morphological constraints upon the human such that those who fail to approximate the norm are not condemned to a death within life?"

(Judith Butler, 1999)


Giới khả niệm (intelligible gender) trong ma trận dị tính (heterosexual matrix)


Nhằm chống lại diễn ngôn nam quyền cho rằng sinh học quyết định số phận, các lý thuyết nữ quyền thường phân biệt giới tính sinh học (sex) và giới tính xã hội, hoặc giới (gender). Theo đó, giới tính sinh học được cho là liên quan đến các yếu tố sinh hóa, giải phẫu như nhiễm sắc thể, cơ quan sinh dục, hormone,... và được xem là "tự nhiên", "có sẵn". Còn giới (gender) là một cấu trúc xã hội, bao gồm các vai trò, hành vi, kỳ vọng mà xã hội gán cho nam và nữ, là những gì "được xây dựng" và "học hỏi". Nói cách khác, giới (gender) được coi chỉ là sự diễn giải văn hóa của một giới tính sinh học (sex) đã có sẵn.


Dựa trên quan điểm của Wittig (1992) rằng khái niệm "giới tính sinh học" (sex) không phải là bất biến hay tự nhiên, mà là một diễn ngôn phục vụ mục đích sinh sản, Butler (1999) phê phán quan điểm phân biệt giới tính/giới, cho rằng quan điểm đó ngầm giả định rằng giới tính (sex) là nhị nguyên (nam và nữ) và giới (gender) là mô phỏng giới tính nên cũng có hai (nam tính và nữ tính). Thực chất, giới tính (sex) cũng là giới (gender), đều là sản phẩm của văn hóa, của diễn ngôn bởi cả hai đều có lịch sử kiến tạo. Giới không nhất thiết phải nhị nguyên. Và tính đồng nhất giới (gender identity) là kết quả của các hành động điều hướng trên cơ sở dị tính bắt buộc (compulsory heterosexuality).


Ma trận văn hóa này, được Butler (1999) gọi là ma trận dị tính (heterosexual matrix), giả định rằng để các cơ thể trở nên mạch lạc và có ý nghĩa, phải có một giới tính sinh học ổn định được thể hiện thông qua một giới tính xã hội ổn định (nam tính thể hiện nam, nữ tính thể hiện nữ), được định nghĩa một cách đối lập và phân cấp thông qua thực hành dị tính bắt buộc. Nói cách khác, giới khả niệm (intelligible genders) là những giới thiết lập và duy trì mối quan hệ mạch lạc và liên tục giữa giới tính sinh học (sex), giới tính xã hội (gender), thực hành tình dục (sexual practice) và ham muốn (desire). Các chuẩn mực này thiết lập những gì được coi là “chân thực”, “có thể hiểu được”.


Trong ma trận dị tính, một số loại “bản dạng" nhất định không thể "tồn tại" – đó là những bản dạng mà giới không phù hợp với giới tính sinh học, hoặc những thực hành ham muốn không "tuân theo" giới tính hay giới tính sinh học. Những bản dạng này xuất hiện như là "những thất bại trong quá trình phát triển" hoặc "những điều không thể về mặt logic". Dị tính luyến ái được áp đặt thông qua nhiều thực hành, từ việc lãng mạn hóa tình yêu dị tính đến bạo lực và áp lực kinh tế (Rich, 1980). Dị tính luyến ái duy trì các mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng, trong đó đàn ông thống trị phụ nữ và người dị tính thống trị người đồng tính (Wittig, 1992).


Rubin (2007), trong lý thuyết “Vòng tròn quyến rũ” (Charmed circle), đã mô tả cách xã hội phân cấp các hành vi tình dục. Bên trong vòng tròn là những mối quan hệ "tốt", "được chấp nhận" (dị tính, một vợ một chồng, trong hôn nhân, vì mục đích sinh sản).

Bên ngoài vòng tròn là những mối quan hệ "xấu", "bị kỳ thị" (đồng tính,...). Warner (1993) gọi đó là định chuẩn dị tính (heteronormativity) và cho rằng định chuẩn dị tính duy trì một hệ thống phân cấp xã hội, trong đó các mối quan hệ và gia đình dị tính có nhiều lợi thế và hưởng nhiều đặc quyền về pháp lý, văn hóa và xã hội. Các mối quan hệ đồng tính không được công nhận hoặc bị bỏ qua trong các văn bản pháp luật, biểu mẫu hành chính,... và trong các câu chuyện văn hóa đại chúng.



Đồng tình là “bản sao” của dị tính?


Butler (1999) cho rằng dị tính bắt buộc không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một cấu trúc được duy trì bởi các quy tắc xã hội, diễn ngôn khoa học và các cấm kỵ, nhằm tạo ra và củng cố các bản dạng giới tính ổn định. Dị tính luyến ái không phải là “tự nhiên” mà là một trò nhại lại ý tưởng về tính tự nhiên và nguyên bản. Các bản dạng đồng tính và song tính vẫn được lồng ghép trong các cấu trúc dị tính luyến ái. Do vậy, các thực hành “phi dị tính” so với với dị tính không phải là bản sao so với bản gốc, mà là bản sao so với bản sao. Sự lặp lại các cấu trúc dị tính trong bối cảnh đồng tính thực chất làm lộ rõ tính kiến tạo và phi tự nhiên của chính dị tính luyến ái.


Việc áp đặt tiêu chuẩn dị tính lên quan hệ đồng tính biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng. Việc áp đặt vai trò "chồng/vợ" lên các cặp đôi đồng tính chính là ép họ "trình diễn" theo kịch bản dị tính. Bên cạnh đó, chuẩn mực về một mối quan hệ lãng mạn độc quyền, một vợ một chồng (monogamy) với các cột mốc truyền thống như hẹn hò, kết hôn, sinh con được xem là "lý tưởng". Nếu không tuân thủ nghiêm ngặt mô hình một-một, các mối quan hệ đồng tính sẽ bị đánh giá là "không bền vững", ít được công nhận và thường bị xem là biểu hiện của sự thất bại trong tình cảm, thay vì là một lựa chọn có ý thức và đồng thuận.


Không chỉ vậy, khi xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, các mối quan hệ đồng tính thường được "dị tính hóa" để trở nên dễ tiếp nhận hơn với khán giả đại chúng. Một cặp đôi đồng tính nam được nhìn nhận với một người "nam tính" (công/top), có tính cách mạnh mẽ, quyết đoán (vai trò "trụ cột") và một người "nữ tính" (thụ/bot), dịu dàng, cần được che chở. Các cặp đôi đồng tính nữ thường phải đối mặt với việc bị phân loại thành "butch" và "femme", trong đó "butch" được cho là sẽ đảm nhận vai trò của người đàn ông và "femme" là vai trò của người phụ nữ. Các bộ phim đồng tính thường diễn giải câu chuyện tình yêu của các nhân vật chính đi theo đúng mô-típ lãng mạn kinh điển của quan hệ dị tính. Hình tượng "nữ tính hóa" nam giới đồng tính và "nam tính hóa" nữ giới đồng tính cũng thường xuyên xuất hiện. Những vấn đề phức tạp như phân biệt đối xử, bạo lực hoặc các trải nghiệm không phù hợp với chuẩn mực dị tính cũng bị giản lược hoặc phớt lờ để tránh làm khó chịu khán giả dị tính.


Trên mạng xã hội, những cặp đôi đồng tính "chuẩn mực" về ngoại hình, có lối sống "ổn định", "lãng mạn" như các cặp dị tính thường được chú ý và dễ dàng chấp nhận hơn. Điều này vô tình tạo ra một áp lực ngầm buộc các mối quan hệ đồng tính phải "giống" dị tính để được xã hội công nhận. Ngoài ra, những bình luận so sánh như "cặp này còn lãng mạn/hạnh phúc hơn cả cặp dị tính" cũng là một dạng “dị tính hóa” vì nó ngụ ý rằng chuẩn mực vẫn là quan hệ dị tính. Một điểm đáng chú ý là đa phần những thảo luận hiện nay chỉ tập trung vào đồng tính nam, đồng tính nữ mà bỏ qua người song tính, chuyển giới, vô tính và các bản dạng khác.


Trong một xã hội liên tục nói rằng dị tính là duy nhất và đồng tính là sai trái, những người trong cộng đồng LGBTQ+ sẽ trải qua quá trình nội tâm hóa định chuẩn dị tính, dẫn đến việc tự đánh giá thấp bản thân cũng như các mối quan hệ của mình hoặc cố gắng "bù đắp" bằng cách tuân thủ một cách cứng nhắc các vai trò và kỳ vọng của quan hệ dị tính. Các nghiên cứu tâm lý học đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc nội tâm hóa sự kỳ thị với các vấn đề sức khỏe tâm thần cao hơn trong cộng đồng LGBTQ+, bao gồm trầm cảm, lo âu, và sự không hài lòng trong mối quan hệ. Một người có thể cảm thấy mối quan hệ của mình "không đủ tốt" nếu nó không giống với hình mẫu gia đình dị tính lý tưởng.



Nam-tính-trong-đầu vs Nam-nhi-trên-giường


Butler (1999) lập luận rằng không có giới tính tự có đằng sau những biểu hiện của giới, cả hai được cấu thành một cách biểu hành (performativity) bởi chính những "biểu hiện" được cho là kết quả của nó. Holland (1998) đưa ra khái niệm "người đàn ông trong đầu" (male-in-the-head) để chỉ quyền lực giám sát của dị tính luyến ái do nam giới thống trị và thể chế hóa, khác với "người đàn ông trên giường" (man-in-the-bed) của trải nghiệm hàng ngày. Trong đó, áp lực trở thành một người đàn ông "bình thường" thường bao hàm việc thể hiện quyền lực đối với phụ nữ, cho dù điều này có được một cá nhân người nam công nhận hay mong muốn hay không. Bên cạnh đó, đàn ông dị tính được kỳ vọng sẽ có một ham muốn tình dục "tự nhiên" và "không thể kiểm soát", ham muốn đó không nên bị gián đoạn hoặc chuyển hướng.


Bên cạnh đó, khoái cảm của đàn ông dị tính thường được liên kết với việc họ phải "làm đúng" (do it right) và hy vọng đối tác sẽ khao khát được thỏa mãn thêm (come back for more). Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người đàn ông trẻ tuổi. Những câu chuyện về "thành tích" (performance stories) của đàn ông được xem như một "bức màn che chắn bằng lời nói" (verbal smoke-screen) cho sự tổn thương, nỗi sợ hãi thất bại trong tình dục và nỗi ám ảnh phải chứng tỏ năng lực trên giường. Và đôi khi, ngoại tình được xem là một sự thỏa hiệp để duy trì sự cân bằng cảm xúc với đối tác nữ, đặc biệt khi sự gắn bó và tình yêu lâu dài có thể kìm hãm ham muốn tình dục. Đối với nhiều người, tình dục thú vị nhất là “tình dục tương đối ẩn danh” (relatively anonymous sex) (Hirsch, 2009).


Trái với quan điểm truyền thống thường củng cố một phiên bản nam tính đơn điệu, hạn chế về khoái cảm, ham muốn và bị coi là "biến thái" nếu đi chệch khỏi chuẩn mực, quan điểm phân tâm học hiện đại đang thay đổi cách nhìn về nam tính, không còn coi nam giới/nam tính là đơn nhất, chỉ được định nghĩa bởi "dương vật" hay sự thống trị. Reis (2009) phê phán luận điểm của Irigaray rằng phụ nữ có "tính đa nguyên" (plural) trong khoái cảm còn đàn ông bị giới hạn trong việc sử dụng "bàn tay thô thiển của họ trên dương vật, hoặc việc sử dụng phụ nữ như một đối tượng thủ dâm". Tác giả cho rằng quan điểm đàn ông dị tính chỉ đạt được khoái cảm từ loại tình dục dương vật-âm đạo (penis-in-vagina sex) không phản ánh thực tế lâm sàng và thực tế đời sống. Trên thực tế, đàn ông dị tính khao khát được thâm nhập (penetrated), họ thích thú với sự kích thích của tinh hoàn, họ sử dụng miệng để tìm khoái cảm và tham gia vào nhiều loại hành vi tình dục đa dạng, những thực hành mà xã hội thường không cho phép và quy kết là "lệch lạc" (pervert).


Person (2009) đưa ra ví dụ về trường hợp họa sĩ Paul Gauguin trong tác phẩm A Way to Paradise của Mario Vargas Llosa được mô tả là đã trải nghiệm khoái cảm sung sướng và bùng nổ sáng tạo khi quan hệ qua đường hậu môn, dù ông tự coi mình là người dị tính. Tuy nhiên, trong ma trận dị tính, đàn ông dị tính sợ bị coi là đồng tính luyến ái nếu họ có những hành vi hoặc sở thích tình dục nằm ngoài khuôn khổ, ngay cả khi họ không có ham muốn đồng tính. Nói cách khác, trong ma trận dị tính, đàn ông dị tính bị giới hạn ham muốn đến mức bất kỳ sự biến đổi nào khác với phạm vi hành vi hẹp đó đều không thể được coi là dị tính (Reis, 2009). Lý thuyết biểu hành giới của Butler (1999) cho thấy cách các kỳ vọng về khoái cảm và ham muốn đã định hình trải nghiệm của đàn ông dị tính và đồng thời, chính những biểu hiện đa dạng này cũng có thể lật đổ các định nghĩa về nam tính và ham muốn.


Tạm kết


Dị tính luyến ái không phải là một xu hướng "tự nhiên" mà là một thể chế chính trị đã và đang định hình các chuẩn mực về giới tính và tính dục trong xã hội. Các chuẩn mực này gắn kết giới tính sinh học, giới tính xã hội, thực hành tình dục và ham muốn để tạo ra "giới khả niệm" (intelligible genders) – những giới được coi là "chân thực" và "có thể hiểu được" trong khuôn khổ dị tính. 


Và bởi vì dị tính cũng là một "bản nhại” lại ý tưởng về tính tự nhiên và nguyên bản, việc coi đồng tính là "bản sao" của dị tính là sai lầm. Việc lặp lại các cấu trúc dị tính, áp đặt tiêu chuẩn của quan hệ dị tính lên quan hệ đồng tính càng làm nổi bật rõ tính chất kiến tạo, phi tự nhiên của quan hệ dị tính. Áp lực tuân thủ định chuẩn dị tính có thể dẫn đến việc nội tâm hóa kỳ thị trong cộng đồng LGBTQ+, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần và các mối quan hệ của họ.


Bên cạnh đó, trong ma trận dị tính, nam tính dị tính được xem một khối đơn nhất (monolithic) cứng nhắc. Thực tế, ngay cả trong các mối quan hệ dị tính, đàn ông có thể có những trải nghiệm giới tính phức tạp và linh hoạt. Các kỳ vọng về "nam tính" và ham muốn trên cơ sở dị tính bắt buộc buộc họ phải che giấu những thực hành tình dục đa dạng, được xem là không phù hợp với chuẩn mực dị tính.


Tài liệu tham khảo

[1] Butler, J. (1999). Gender trouble : feminism and the subversion of identity. Routledge.

[2] Hirsch, I. (2009). Imperfect Love, Imperfect Lives: Making Love, Making Sex, Making Moral Judgments. In B. Reis & R. Grossmark (Eds.), Heterosexual Masculinities: Contemporary Perspectives from Psychoanalytic Gender Theory (pp. 89-103). Routledge.

[3] Holland, J. (1998). The Male in the Head: Young People, Heterosexuality and Power. Tufnell.

[4] MacKinnon, C. A. (1987). Feminism Unmodified: Discourses on Life and Law. Harvard University Press.

[5] Person, E. S. (2009). Masculinities, Plural. In B. Reis & R. Grossmark (Eds.), Heterosexual Masculinities: Contemporary Perspectives from Psychoanalytic Gender Theory (pp. 1-22). Routledge.

[6] Reis, B. (2009). Names of the Father. In B. Reis & R. Grossmark (Eds.), Heterosexual Masculinities: Contemporary Perspectives from Psychoanalytic Gender Theory (pp. 55-72). Taylor & Francis.

[7] Rich, A. (1980). Compulsory Heterosexuality and Lesbian Existence. Journal of Women in Culture and Society, 5, 631-660.

[8] Rubin, G. (2007). Thinking sex: Notes for a radical theory of the politics of sexuality. In R. Parker & P. Aggleton (Eds.), Culture, Society and Sexuality: A Reader (pp. 143-179). Taylor & Francis.

[9] Warner, M. (1993). Fear of a Queer Planet: Queer Politics and Social Theory (M. Warner, Ed.). University of Minnesota Press.

[10] Wittig, M. (1992). The Straight Mind: And Other Essays. Beacon Press.


 
 
 

Comments


© Happening Everyday. All Rights Reserved

  • Instagram
  • Facebook
  • Youtube
bottom of page